Tác giả
佚名
Đạo Đức Kinh là tác phẩm kinh điển bất hủ của nền văn hóa Trung Hoa, gồm hai phần lớn là Đạo Kinh và Đức Kinh. Chỉ vẻn vẹn khoảng năm ngàn chữ nhưng ý tứ thâm sâu, lập luận tinh tường và tư tưởng quảng đại. Tác phẩm bàn luận nhiều chiều về bản thể của vũ trụ, nguồn cội vạn vật, quy luật tự nhiên, đồng thời vận dụng sâu sắc vào thực tế đời sống, xã hội, đất nước và dân sinh, bao quát qua sáu phương diện trọng yếu: luận đạo, trị quốc, tu thân, phê phán thời cuộc, dưỡng sinh và thuật dụng binh.
Tác phẩm thuộc phạm vi công cộng, được phổ biến tự do phi lợi nhuận nhằm mục đích nghiên cứu, đọc tụng và lưu truyền văn hóa Phật giáo cho đông đảo quý độc giả hữu duyên.
Bản kinh văn do người xưa thác danh Phật thuyết, tác giả khuyết danh, gồm một quyển. Mở đầu kính lễ Quán Âm, nguyện cứu vớt kẻ trọng tội chốn Sa Bà, an trú cõi Niết Bàn giải thoát. Kế đến khuyên xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật cùng hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí để thoát khổ luân hồi, vĩnh viễn không đọa địa ngục. Tiếp đó phát mười nguyện cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; bốn nguyện giữ gìn mắt, tai, miệng, tay không phạm nghiệp ác; sau cùng phát nguyện mai sau gặp Phật Di Lặc, cùng dắt tay bước vào hóa thành. Bản kinh ban đầu bị xếp vào ngụy kinh, không được lưu hành trong đại tạng kinh thông thường mà chỉ còn tìm thấy trong di thư Đôn Hoàng, về sau được thâu nạp vào Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu tập 85.
Ghi chép về hai dạng thức pháp ấn chuyên dùng trong nghi thức dâng sớ tấu biểu, hô thần triệu quỷ và xác định chức sắc giới phẩm của Đạo môn.
Tác phẩm thuộc phạm trù thư tịch cổ công cộng, được phổ biến phục vụ độc giả thưởng thức và giao lưu học thuật, tổng hợp các bản thảo điện tử đã mở quyền tiếp cận.
Kinh điển do người Trung Quốc mượn danh Phật thuyết soạn nên, tác giả khuyết danh, gồm một quyển và được chia thành ba dị bản khác nhau. Cả ba bản có kết cấu tương tự, đều mang nội dung khuyên niệm Phật, dự báo tai họa, khuyến khích chép kinh và thuyết minh nguồn gốc kinh văn, chỉ khác biệt về độ giản lược. Kinh văn xuất xứ từ vùng Hà Tây vào khoảng thời kỳ vãn Đường, ghi lại lời cảnh báo vào năm được mùa lớn trời sẽ giáng đại tai ương kèm mười mối họa bất đắc kỳ tử, từ đó khuyên răn người đời mỗi ngày niệm danh hiệu Phật A Di Đà một ngàn biến và sao chép lưu truyền. Nhiều bản chép tay mang niên hiệu Đôn Hoàng dưới thời Thổ Phồn nhưng đa số ghi niên hiệu Trinh Nguyên. Kinh này không được ghi chép trong các bản kinh mục lịch đại cũng như Đại Tạng Kinh của các triều đại, chỉ còn lưu giữ duy nhất trong di thư Đôn Hoàng, về sau được đưa vào tập 85 của Đại Chính Tạng Nhật Bản.
Ghi lại bảy bức đồ hình hoa văn trên gương đồng dùng để trừ tà tị hung, kèm theo các đoạn minh văn ngắn gọn mang giá trị huyền thuật cổ truyền.
Nội dung trích từ phần Mật giáo bộ thứ 1259 trong Đại Tạng Kinh, chủ yếu ghi chép và hướng dẫn hai pháp thủ ấn căn bản: Thân ấn và Ẩn hình ấn.
Tác phẩm thuộc phạm vi công cộng, đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền, được phát hành rộng rãi để bạn đọc thưởng thức và tra cứu lưu trữ học thuật.
Bản chép tay Đôn Hoàng ký hiệu P.t.1253. Phần đầu bị rách khuyết, tổng cộng gồm 29 dòng với 424 âm tiết. Văn bản này có thể dùng để đối chiếu, bù khuyết và đính chính sai sót cùng các bản chép chữ Hán số S.2985, P.3190 và bản số 004724 của Thư viện Trung ương Đài Bắc. Tuy nhiên, vẫn có một số câu chữ trong bản này không hề xuất hiện ở các bản chép chữ Hán hiện còn. Cuộn tài liệu đã được học giả người Anh Simon Walter khảo định và phiên chuyển một phần.